Thứ Hai , Tháng Mười Một 28 2022
Home / Giáo Dục / Phân tích bài thơ tràng giang của huy cận | Trang học đường
Phân tích bài thơ tràng giang của huy cận

Phân tích bài thơ tràng giang của huy cận | Trang học đường

Phân tích bài thơ Tràng Giang Huy Cận

Tràng giang là bài thơ được sông Hồng gợi tứ. Trước cách mạng, tôi thường với thú vui vào chiều chủ nhật hàng tuần đi lên vùng Chèm, Vẽ để ngoạn cảnh Hồ Tây và sông Hồng. Phong cảnh sông nước đẹp gợi cho tôi đa dạng xúc cảm. không những thế bài thơ ko chỉ do sông Hồng gợi cảm mà còn mang xúc cảm chung về những chiếc sông khác của quê hương. Chúng tôi khi đó với 1 nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không sắm được lối ra nên như kéo dài miên man. Tràng giang là 1 bài thơ tình và tình gặp cảnh, 1 bài thơ về tâm hồn. Nhìn mẫu sông lớn gợn những lớp sóng, tôi cảm thấy nỗi buồn của mình cũng đang trải ra như các lớp sóng:

Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp.

Con thuyền xuôi mái nước song song,

Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;

Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Thuyền và nước vốn là hai định nghĩa gần gũi nhưng rồi chẳng phải bao giờ cũng gắn bó. Thuyền gợi lên 1 dòng gì nổi nênh như kiếp người trong thế cuộc cũ. Nhất là ở đâycon thuyền lênh đênh thả mái xuôi chiếc và như có một nỗi buồn chia li, xa rời đang đón đợi. Tôi lựa chọn trong phổ thông khả năng biểu hiện hình ảnh. Củi một cành khô lạc mấy cái chẳng hề là một thân gỗ xuôi dòng, một đám bèo xanh trôi nổi mà là 1 cành củi khô bềnh bồng xiêu bạt trên sông:

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,

Đâu tiếng làng xa vãn chạ chiều,

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;

Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

khung cảnh của buổi chiều trên sông nước, làng xóm đôi bờ vắng lặng. Trong câu đầu của khổ thơ, tôi có học được chữ “đìu hiu” của Chinh phụ ngâm:

Non Kì quạnh quê trăng treo

Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò.

Phân tích bài thơ tràng giang của huy cận

Phân tích bài thơ tràng giang của huy cận

Cảnh vật vắng vẻ, đâu đây vẳng lại đôi tiếng lao xao của buổi chợ chiều. Thật không gì vui bằng khi chợ đông và buồn bằng lúc chợ chiều tan tác, không với tiếng người thì cảnh vật hoang vắng và xa lạ. đôi chút âm thanh của cuộc sống con người ko làm bớt đi sự vắng yên nhưng vẫn tạo được ít phổ quát màu vẻ của cuộc sống. trùng hợp tạo vật trong buổi chiều tà trên sông nước cũng lạ lùng. Từng vạt nắng từ trên cao rọi xuống tạo nên các khoảng sâu thăm thẳm trên bầu trời. Tôi sử dụng chữ sâu chứ không dùng chữ cao. giả dụ là cao chót vót thì quá thường nhật. ko gian được mở ra 2 chiều, chiều cao và bề rộng tạo nên một không gian vũ trụ rộng to và cũng là những nỗi buồn như vô tận. Câu thơ đề trong khoảng của bài: Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài cũng được lấy lại trong ý thơ sông dài, trời rộng, bến cô liêu. Trong không gian buồn, cách biệt đấy, người nào cũng muôn mua tới những vết tích thân thiện của sự sống, của cuộc đời:

Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;

Mênh mông không một chuyến đò ngang.

Không cầu gợi chút niềm thân mật,

Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

các dấu hiệu thân thiện nhất trong cuộc sống đều không sở hữu. không 1 cái cầu nhỏ, ko 1 chuyến đò ngang để cuộc sống đi về trong thân mật thân thiện. Cả bốn câu thơ đều buồn, mỗi câu có một nỗi buồn riêng. Cảnh vật sở hữu thay đổi nhưng cùng 1 dáng vẻ, phần lớn đều trôi nổi, mông lung, vô định. ko mang những vết tích của con người. nhắc đến từng hình ảnh, lại thấy khẩn thiết nhớ cuộc sống của con người. thiên nhiên tạo vật buồn nhưng đôi lúc bộc lộ vẻ đẹp kì vĩ lạ lùng:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,

Chim nghiêng cánh nhỏ, bóng chiểu sa.

Lòng quê dợn dợn vời con nước,

không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Câu thơ đầu mang học được chữ “đùn”trong bài dịch thơ Đỗ Phủ:

Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm

Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

Mây trắng hết lớp này đến lớp khác như những búp bông trắng nở ra trên trời cao. Ánh chiều trước khi vụt tắt rạng lên vẻ đẹp. Cánh chim bay liệng tuy gợi lên một tí yên ấm cho cảnh vật nhưng nhỏ bé, mông lung quá. Và nỗi buồn đến đây càng thêm dadiết trong thương nhớ. Nó ko chỉ đóng khuông trong cảnh sông nước ở trước mặt mà mở ra tới những chân mây của miền quê xa. hai chữ dợn dợn của tôi thường bị đọc sai thành dờn đợn, như thế chẳng có ý nghĩa gì. Trong bài thơ Tràng giang có nhiều điệp ngữ như: điệp điệp, đồng thời, dợn dợn. Mỗi trong khoảng điệp như thế đều sở hữu ý nghĩa riêng về nội dung cũng như nghệ thuật. Bài thơ chấm dứt bằng nỗi nhớ quê hương da diết. Tôi kể khác ý thơ của Thôi Hiệu:

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Vì khi ấy (1939), tôi buồn hơn Thôi Hiệu đời nhà các con phố.

Tôi thường đề cập vui rằng cảnh trên sông nước mang khói sóng khiến cho Thôi Hiệu buồn, nhớ quê, còn tôi thì ko với khói sóng cũng da diết nhớ quê hương. Bài Tràng giang đã phối hợp được thơ ca truyền thống, các nét cổ điển của thơ con đường mang những nét tiên tiến. các hình ảnh con thuyền xuôi mái, củi một cành khô, bèo dạt về đâu, hàng nối hàng có tính chân thực của đời thường, ko ước lệ. Và cũng sở hữu các hình ảnh có vẻ đẹp biểu tượng. tình ái quê hương trong bài Tràng giang gợi lên và mở ra 1 ái tình to lao hơn mỗi miền quê, mỗi cảnh vật. tình yêu ấy sở hữu nỗi buồn non nước, nỗi buồn về đất nước.

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *